Hội chứng cơ tròn lớn

Hội chứng cơ tròn lớn là rối loạn thường gặp, nó thường bị chẩn đoán nhầm. Điều trị hội chứng cơ tròn lớn cần được thực hiện sớm và đúng cách

1. Hội chứng lâm sàng

Cơ tròn lớn là cơ dễ bị tổn thương trong hội chứng đau cân cơ tiến triển. Căng cơ hoặc va đập vào cơ tròn lớn liên tục trong các hoạt động thể thao, tai nạn xe máy, cũng như bị vật nặng rơi vào phần trên của xương bả vai đều liên quan đến sự tiến triển của hội chứng cơ tròn lớn. Thêm vào đó, các vị chấn thương thứ phát lặp lại khi vươn tay và đưa ra sau, ví dụ : khi ta với tay lấy đồ ở ghế sau xe hơi, ném qua đầu, và một số môn thể thao đối kháng có thể làm cơn đau kiều cần có của cơ tròn lớn tiến triển.

Hội chứng cơ tròn lớn là hội chứng mạn tính biểu hiện tại chỗ hoặc một phần cơ thể. Điều thiết yếu của hội chứng đau cân cơ là tìm thấy điểm khởi phát trong thăm khám lâm sàng. Mặc dù điểm khởi phát tại chỗ hay một phần cơ thể, cơn đau vẫn thường lan ra xung quanh. Cơn đau có thể chẩn đoán sai hoặc quy cho các hệ thống cơ quan khác, do đó dẫn đến việc đánh giá bao quát và điều trị không hiệu quả.

Bệnh nhân mắc hội chứng đau cân có liên quang tới cơ tròn lớn thường có triệu chứng đau ở vai lan xuống ngón tay. Điểm khởi phát là dấu hiệu đặc trưng cho hội chứng đau cân cơ và biểu hiện bằng một điểm khu trú có tính nhạy cảm tinh tế Kích thích cơ học vào điểm khởi phát bằng sờ nắn hoặc kéo căng không chỉ gây đau tại chỗ rất nhiều mà còn lan ra xung quanh. Bên cạnh đó, sự co rút tự phát hay gọi là dấu hiệu “ giật nảy (jump sign) cũng được coi là đặc trưng cho hội chứng đau cần cơ.

Hội chứng cơ tròn lớn
Hội chứng cơ tròn lớn

Những dải căng của các sợi cơ thường được xác định khi các điểm khởi phát đau cân cơ bị sờ nắn vào. Mặc dù nghiên cứu thực thế phù hợp như thế, sinh bệnh học của điểm khởi phát đau cân cơ vẫn Còn chưa rõ ràng nhưng những điểm khởi phát được cho là kết quả từ những vị chấn thương tới cơ bị ảnh hưởng. Chấn thương này có thể xảy ra từ một vết thương đơn thuần, vì chấn thương tái diên, hoặc do thoái hóa của các nhóm cơ đối vận.

Ngoài các chấn thương ở cơ, các nhân tố khác được xem là dẫn dắt bệnh nhân đến sự tiến triển của hội chứng đau cân cơ. Ví dụ : Một vận động viên không chuyên mà bắt cơ thể anh ấy hoặc cô ấy làm những vận động cơ thế bất thường (không thường xuyên làm). Sai tư thế khi làm việc với máy tính hoặc khi xem Tivi cũng gây ảnh hưởng như một yếu tố đưa đến. Các tổn thương trước đây có thể dẫn đến chức năng cơ bất thường và làm hội chứng đau gân cơ tiến triển.

Tất cả các yếu tố có thể được cộng hưởng nếu như bệnh nhân có chế độ ăn nghèo dinh dưỡng hoặc có kèm theo rối loạn tâm lý hoặc có hành vi bất thường bao gồm các stress và trầm cảm mạn tính. Cơ tròn lớn được xem là một trong các cơ bị ảnh hưởng nhiều bởi hội chứng đau gân cơ bao gồm cả stress. Sự co cứng và mệt mỏi thường xuất hiện cùng với đau, chúng làm tăng việc hạn chế chức năng liên quan tới bệnh và gây khó khăn cho điều trị.

Hội chứng đau gân cơ có thể xảy ra như là giai đoạn bệnh nguyên phát hoặc có sự kết hợp với các chứng đau khác, bao gồm các bệnh về rễ thần kinh và các hội chứng đau phân vùng có tính mạn tính. Những bất thường về tâm lý và hành vi, bao gồm trầm cảm, thông thường cùng tồn tại với những bất thường về cơ, và kiểm soát những rối loạn tâm thần này là một phần không thể thiếu của bất kỳ kế hoạch điều trị thành công nào.

2. Dấu hiệu và triệu chứng

Điểm khởi phát là tổn thương bệnh lý của hội chứng cơ tròn lớn và đặc trưng bởi một điểm khu trú nhạy cảm mạnh ở nách hay phần sau của cơ ngực lớn. Kích thích cơ học vào điểm khởi phát bằng sờ nắn hoặc kéo căng gây đau mạnh tại chỗ và đau lan. Ngoài ra dấu hiệu “giật nảy” là chỉ điểm cho hội chứng cơ tròn lớn

3. Cận lâm sàng

Sinh thiết những điểm khởi phát đã xác định trên lâm sàng không tiết lộ những đặc điểm mô học bất thường. Các cơ có điểm khởi phát được coi như là bị “nhậy cần” hoặc chứa “thoái hóa sáp”.

Tăng myoglobin huyết tương được báo cáo ở một số bệnh nhân có hội chứng cơ tròn lớn nhưng không được chứng thực với những điều tra viên khác.

Test điện cơ chẩn đoán ở những bệnh nhân có hội chứng cơ tròn lớn đã chỉ ra một sự tăng trương lực cơ ở một số bệnh nhân, nhưng mặt khác những nghiên cứu này không được tiếp tục. bởi vì thiếu test chẩn đoán khách quan, nhà lâm sàng phải loại trừ những quá trình bệnh lý cùng tồn tại có thể gia hội chứng cơ tròn lớn (xem “chẩn đoán phân biệt”).

4. Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán hội chứng cơ tròn lớn được thực hiện trên cơ sở các phát hiện lâm sàng hơn là các xét nghiệm đặc hiệu, điện cơ chấn đoán, hoặc phim chụp xquang. Vì lý do đó, một bệnh sử hướng đến và thăm khám lâm sàng, với tìm kiếm hệ thống các điểm khởi phát và việc xác định một dấu hiệu “giật nảy” dương tính, nên được thực hiện ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ đang có hội chứng co tròn lớn.

Bác sĩ lâm sàng phải loại trừ những quá trình bệnh lý cùng tồn tại Có thể gia hội chứng cơ tròn lớn bao gồm bệnh viêm cơ nguyên phát, bệnh đa xơ cứng, và bệnh collagen mạch máu Điện cơ chẩn đoán và chụp xquang có thể xác định những rối loạn cùng tồn tại như viêm túi hoạt dịch vai, viêm gan, và các vết rách cơ quay, Bác sĩ lâm sàng phải xác định những bất thường tâm lý và hành vi có thể che lấp hoặc làm nặng thêm những triệu chứng liên quan tới hội chứng cơ tròn lớn.

5. Điều trị hội chứng cơ tròn lớn

Phác đồ điều trị là tập trung vào phong bể điểm khởi phát và đạt được sự thư giãn cơ kéo dài cơ bị ảnh hưởng. Vì cơ chế của hành động này được hiểu biết còn ít, một yếu tố của việc thử nghiệm và sai sót thường cần thiết khi phát triển kế hoạch điều trị. Điều trị bảo tồn bằng cách tiêm thuốc tê hoặc dung dịch muối vào điểm khởi phát. Vì chứng trầm cảm và lo âu ẩn bên dưới xảy ra ở nhiều bệnh nhân có đau xơ cơ, việc kiểm soát thuốc chống trầm cảm là một phần không thể thiếu của hầu hết các kế hoạch điều trị. Pregabalin và gabapentin cũng đã được đưa ra để giảm nhẹ các triệu chứng liên quan tới đau xơ cơ.

Thêm vào đó, một vài phương thức phụ được phép dùng để điều trị đau xơ cơ cột sống cổ, liệu pháp sử dụng nhiệt và lạnh thường kết hợp với tiêm điểm khởi phát và thuốc chống trầm cảm để đạt được giảm đau. Một số bệnh nhân có được sự giảm đau với việc áp dụng kích thích thần kinh qua da (TENS) hoặc kích thích điện để làm mệt cơ bị ảnh hưởng.

Tập thể dục có thể cũng giúp giảm bớt cường độ của những triệu chứng và cải thiện sự mệt nhọc liên quan tới bệnh này.

Mặc dù tới này không được chấp nhận bởi tổ chức FDA cho chỉ định này, tiêm một lượng nhỏ độc tố botulinum tyoe A thẳng vào những điểm khởi phát được sử dụng thành công ở những bệnh nhân không đáp ứng với các phương thức điều trị truyền thống.

6. Biến chứng và những sai lầm thường gặp

Tiêm vào điểm khởi phát là rất an toàn nếu chú ý cẩn thận được dành cho giải phẫu liên quan trên lâm sàng. Kỹ thuật vô trừng phải được dùng để ngăn nhiễm trùng, bên cạnh những việc đề phòng chung để giảm tối đa nguy cơ cho người thực hiện. Hầu hết các biến chứng của tiêm điểm khởi phát liên quan tới chấn thương do mũi kim tiêm đem lại ở vị trí tiêm và các mô bên dưới.

Tỷ lệ bầm máu và bướu máu hình thành có thể giảm xuống nếu thực hiện ép lên vị trí tiêm ngay sau khi tiêm. Việc tránh sử dụng mài kim tiên quá dài có thể giảm được tỷ lệ chấn thường các cấu trúc bên dưới. Chăm sóc đặc biệt phải được thực hiện để tránh tràn khí ngực khi việc tiêm những điểm khởi phát ở gần với khoảng mà màng phối nằm bên dưới.

7. Kinh nghiệm lâm sàng

Mặc dù hội chứng cơ tròn lớn là rối loạn thường gặp, nó thường bị chẩn đoán nhầm. Vì thế, ở những bệnh nhân nghi ngờ mắc hội chứng cơ tròn lớn, một đánh giá cần thận để xác định các quá trình bệnh lý bên dưới là bắt buộc. Hội chứng cơ tròn lớn thường cùng tồn tại với những rối loạn về tâm lý và thể xác.

Cùng chủ đề: 03. Các hội chứng đau vai
5 2 votes
Article Rating

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments