Hội chứng gân cơ trên gai

Hội chứng gân cơ trên gai là một rối loạn hay gặp nhưng nó thường không được chẩn đoán. Điều trị bằng Vật lý trị liệu hoặc y học cổ truyền cho hiệu quả tốt.

1. Hội chứng lâm sàng

Cơ trên gai thì nhạy cảm với sự phát triển của hội chứng đau cân cơ. Vận động gấp-duỗi và sang bên liên tục trong thời gian dài gây tổn thương cho cổ, vai và phần lưng trên, hoặc các vi chấn thương lặp đi lặp lại thứ phát sau các hoạt động, đòi hỏi phải vận động phía trên đầu hoặc phải với ngang qua cơ thể (ví dụ như sơn trần nhà, làm việc trong dây chuyền lắp ráp, hoặc thậm chí là xem tivi trong khi đang tựa trên ghế dài) có thể dẫn đến sự phát triển của đau cân Cơ tại cơ trên gai.

Ở những bệnh nhân có hội chứng gân cơ trên gai, điểm khởi phát (trigger point) nằm ở bờ trên xương bả vai
Ở những bệnh nhân có hội chứng gân cơ trên gai, điểm khởi phát (trigger point) nằm ở bờ trên xương bả vai

Hội chứng đau cân cơ là một hội chứng đau mãn tính có tác động đến một phần cơ thể theo từng điểm hoặc theo khu vực. Điều kiện thiết yếu của hội chứng đau cân cơ là phát hiện được của các điểm đau khởi phát (“Trigger point“) thuộc cân cơ trên khám lâm sàng. Mặc dù các “Trigger point” thường khu trú ở phần cơ thể bị tổn thương, nhưng cơn đau thương lan tới các khu vực khác. Việc này có thể khiến cơn đau bị chẩn đoán sai hoặc quy cho hệ thống cơ quan khác, do đó dẫn đến đánh giá phổ quát và điều trị không hiệu quả. Những bệnh nhân với hội chứng đau cân cơ bao gồm cả cơ trên gai thường có hiện tượng đau ở vai lan xuống cánh tay.

Trigger point” là đặc trưng bệnh học của hội chứng đau cân cơ và được mô tả là một điểm khu trú hay đau nhất trong cơ bị tổn thường. Kích thích cơ học vào điểm khởi đau bằng cách sờ nắn hoặc căng dẫn không chỉ sinh ra sự đau chói tại chỗ mà còn khiến cơn đau lan tỏa. Ngoài ra, người ta thường thấy sự co rút không kiểm soát của các cơ bị kích thích, được gọi là dấu hiệu giật (jump sign) là đặc trưng của hội chứng đau cân cơ. Ở những bệnh nhân có hội chứng gân cơ trên gai, “Trigger point” nằm ở bờ trên xương bả vai.

Sự căng cơ thường được xác định khi sờ vào “Trigger point“. Bất chấp sự có mặt của điểm đau khởi phát trên lâm sàng, sinh lý bệnh của nó vẫn còn khó hiểu, nhưng người ta cho rằng điểm khởi đau là hậu quả của vị tổn thương cơ. Tổn thương này có thể là kết quả của một chấn thương đơn thuần, hoặc lặp đi lặp lại, hoặc mất phản xạ có điều kiện mạn tính của các nhóm cơ chủ vận và cơ đối vận.

Ngoài tổn thương cơ, nhiều yếu tố khác có về cũng làm bệnh nhân phát triển hội chứng đau cận cơ. Ví dụ, một vận động viên không chuyền (weekend athlete) đưa cơ thể của mình vào các hoạt động thể chất không quen có thể mắc hội chứng đau này. Tư thế xấu trong khi ngồi trước máy tính hoặc trong khi xem TV cũng có liên quan như một yếu tố đưa đến bệnh. Chấn thương từ trước đó có thể gây ra chức năng bất thường của cơ và dẫn đến sự phát triển của hội chứng đau cân cơ, đau cần cơ co stress gây ra.

Tất cả những yếu tố này có thể được tăng cường nếu bệnh nhân kèm theo tình trạng dinh dưỡng kém hay đồng thời tồn tại những bất thường về tâm lý hoặc hành vi, bao gồm stress mãn tính và trầm cảm. Cơ trên gai có vẻ như đặc biệt nhạy cảm với hội chứng đau cân cơ do stress gây ra.

Sự cứng và mỏi cơ thường cùng tồn tại với những cơn đau, và chúng làm tăng sự hạn chế chức năng liên quan đến bệnh này và làm phức tạp hóa điều trị. Hội chứng đau cân cơ có thể xảy ra như một tình trạng bệnh chính hoặc kết hợp với các chứng đau khác bao gồm cả bệnh rễ thần kinh và hội chứng đau theo vùng mạn tính. Bất thường về tâm lý hay hành vi, bao gồm trầm cảm, thường xuyên đi kèm các bất thường về cơ, và kiểm soát những rối loạn tâm lý là một phần không thể thiếu của bất kỳ kế hoạch điều trị thành công nào.

2. Dấu hiệu và triệu chứng

Điều kiện thiết yếu của hội chứng gân cơ trên gai là tìm thấy được các điểm khởi phát – một điểm đau khu trú đặc biệt nhạy cảm với đau – nằm ở bờ trên xương bả vai. Kích thích cơ học vào điểm khởi đau bằng cách sờ nắn hoặc căng giãn gây ra đau chói tại chỗ cũng như đau lan, và dấu hiệu giật (jump sign) có thể hiện diện. Các phát hiện đặc trưng khác của hội chứng gân cơ trên gai là đau trong tầm vận động của xương bả vai và vai, và đau lan tới vai và chi trên không theo phân vùng cảm giác của da.

Đau khi vận động vai, và đau lan qua vai và chi trên không theo phân vùng cảm giác da là đặc trưng của hội chứng gân cơ trên gai
Đau khi vận động vai, và đau lan qua vai và chi trên không theo phân vùng cảm giác da là đặc trưng của hội chứng gân cơ trên gai

3. Cận lâm sàng

Sinh thiết các điểm khởi đau được xác định trên lâm sàng không phải lúc nào cũng cho thấy các đặc trưng mô học bất thường. Các cơ chứa các điểm khởi đau được mô tả hoặc như “nhậy cần ” (mối cắn) hoặc là chứa “thoái hóa sáp (waxy degeneration)”.

Tăng moglobin huyết tương được báo cáo ở một số bệnh nhân bị hội chứng gân cơ trên gai, nhưng phát hiện này chưa được chứng thực bởi các nhà điều tra khác.

Điện cơ trong những bệnh nhân bị hội chứng gân cơ trên gai cho thấy sự tăng điện thế cơ ở một số bệnh nhân, nhưng một lần nữa, phát hiện này đã không được chứng thực lại.

Do thiếu các cận lâm sàng chấn đoán khách quan, các bác sĩ lâm sàng phải sử dụng điện cơ và phương tiện X-quang để loại trừ các bệnh lý khác có thể giống hội chứng gân cơ trên gai (xem “Chẩn đoán phân biệt”).

4. Chẩn đoán phân biệt

Việc chẩn đoán hội chứng gân cơ trên gai được dựa trên các phát hiện lâm sàng hơn là các xét nghiệm, điện cơ, hoặc chụp X – quang chuyên biệt. Vì lý do này, một bệnh sử có chủ đích và thăm khám thực thể, với việc tìm kiếm có hệ thống cho các điểm khởi đau và xác định dấu hiệu giật nảy dương tính, phải được thực hiện ở tất cả các bệnh nhân nghi ngờ có hội chứng gân cơ trên gai.

Các bác sĩ lâm sàng phải loại trừ các quá trình bệnh lý đi kèm có thể tương tự hội Chứng gân cơ trên gai, bao gồm bệnh viêm cơ nguyên phát, bệnh đa U cứng (multiple sclerosis), bệnh collagen mạch máu, chẩn đoán điện học và nghiên cứu X-quang có thể giúp xác định các bệnh lý lều theo như viêm bao hoạt dịch vai, viêm gân và cách chóp xoay riệu chứng liên quan với hội chứng gân cơ trên gai.

Các bác sĩ cũng phải xác định những bất thường về tâm lý và hành vi đi kèm cái mà có thể che dấu hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng liên quan với hệ chứng gân cơ trên gai.

5. Điều trị hội chứng gân cơ trên gai

Điều trị được tập trung vào việc ngăn chặn điểm khởi đau thuộc cơ mạc và làm thư giãn kéo dài các cơ bị ảnh hưởng. Người ta hy vọng rằng làm gián đoạn chu kỳ đau theo cách này sẽ cho phép bệnh nhân đạt được sựu giảm đau kéo dài. Bởi vì cơ chế tác động của các phương thức điều trị được sử dụng chưa được hiểu rõ, nên yếu tố thử và sai lầm cũng tham gia vào việc phát triển một kế hoạch điều trị.

Khởi đầu điều trị nên được điều trị bằng Vật lý trị liệu, chườm nóng và lạnh, kích thích thần kinh qua da, và kích thích điện, có thể được sử dụng trên cơ sở tùy trường hợp cụ thể, hoặc châm cứu… Theo kinh nghiệm lâm sàng, bệnh nhân đáp ứng tốt sau 3-5 ngày điều trị.

Phương pháp bảo tồn khác bao gồm tiêm vào điểm khởi đau với thuốc gây tê cục bộ hoặc nước muối tiêm là điều trị ban đầu của hội chứng gân cơ trên gai.

Sử dụng pregabalin là bước tiếp theo ở những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị tiêm vào điểm khởi đau. Bắt đầu một liều 50 đến 100 mg vào giờ đi ngủ, thuốc này có thể được tăng tới liều 100 mg ba lần một ngày khi tác dụng phụ chấp nhận được Liều lượng thuốc nên được giảm xuống ở bệnh nhân bị suy chức năng thận.

Đối với những bệnh nhân không đáp ứng với các biện pháp truyền thống, cần xem xét đến việc sử dụng botulinum toxin là độc bảng A; mặc dù hiện nay chỉ định này không được chấp thuận bởi Cục Quản lý Thực phẩm và Dược, việc bơm lượng nhỏ độc tố botulinum type A trực tiếp vào các điểm khởi đau để điều trị đã thành công. Bởi vì trầm cảm và lo âu tiềm tàng hiện diện ở nhiều bệnh nhân bị hội chứng gân cơ trên gai, nên việc kê thuốc chống trầm cảm là một phần không thể thiếu của phần lớn các kế hoạch điều trị

6. Biến chứng và những sai lầm thường gặp

Thêm vào điểm khởi đau là rất an toàn nếu chú ý cẩn thận tới giải phẫu lâm sàng liên quan. Kỹ thuật khử trùng phải được sử dụng đế tránh nhiễm trùng, cùng với biện pháp phòng ngừa phổ quát để giảm thiểu rủi ro cho người điều trị. Hầu hết các biến chứng của việc tiêm vào điểm khởi đau có liên quan đến chấn thương do kim gây ra tại chỗ tiêm và tại mô bên dưới.

Tỷ lệ bầm máu và hình thành khối máu tụ có thể được giảm nếu tiến hành ấn vào vùng tiêm sau khi tiêm. Tránh dùng kim quá dài có thể làm giảm chấn thương cho các cơ quan bên dưới. Cần đặc biệt chú ý để tránh tràn khí màng phổi khi tiêm vào điểm khởi đau gần với khoang màng phối bên dưới.

7. Kinh nghiệm lâm sàng

Mặc dù hội chứng gân cơ trên gai là một rối loạn hay gặp nhưng nó thường không được chẩn đoán. Vì vậy, ở những bệnh nhân nghi ngờ mắc hội chứng gân cơ trên ai bắt buộc phải đánh giá cẩn thận để xác định bất là quá trình bệnh lý tiềm tàng nào. Hội chứng gân cơ trên gai thường tồn tại song song với nhiều rối loạn thực thể và tâm lý

Cùng chủ đề: 03. Các hội chứng đau vai
5 1 vote
Article Rating

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments